Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

PLATIN, TRANG SỨC THỜI THƯỢNG

PLATIN, TRANG SỨC THỜI THƯỢNG
Bộ trang sức emerald làm bằng platin do LDJ thiết kế

 
Platin tinh khiết bởi nó trắng sáng và thật mềm mại trên làn da. Platin quý hiếm bởi nó là thứ kim loại cực khó kiếm từ nghìn đời nay từ khi con người phát hiện ra. Chọn lựa và đeo trang sức platin cũng là cách thể hiện cá tính, sức mạnh và phong cách của mỗi người.
Tinh khiết
Platin rất tinh khiết. Nó thể hiện sức mạnh và sự gắn kết chặt chẽ bên trong. Sự tinh khiết này được thể hiện bằng mầu trắng lý tưởng để tôn vinh cái đẹp tự nhiên của những viên kim cương. Platin dùng để chế tác trang sức thường có độ tinh khiết là 95% (vàng trắng 18 carat, độ tinh khiết 75%) không bị mờ cũ bởi thời gian và năm tháng.
Hiếm
Platin hiếm gấp 30 lần so với vàng. Người ta ước tính rằng toàn bộ số platin mà con người tìm thấy được chỉ vẻn vẹn nằm trong một bể bơi Olympic, trong khi đó số vàng mà con người khai thác được lớn gấp hơn thế nhiều lần.
Vĩnh hằng
Platin là vĩnh cửu. Chọn và đeo trang sức platin có nghĩa là bạn đã quyết mang nó suốt đời. Tỷ trọng và khối lượng riêng đã tạo nên độ bền và sự quý hiếm của platin. Một trang sức chế tác bằng platin có kích thước nhỏ gọn hơn kim loại quý khác, nhưng lại có độ bền cao hơn nhiều lần. Đó là lý do tại sao, người ta thường dùng platin để làm "ổ" nhẫn kim cương hay để giữ, cố định các viên đá quý... Cũng như hầu hết kim loại khác, platin rất cứng và ít bị trầy xước và độ bền của nó là vĩnh cửu.
Platine và vàng trắng có gì khác nhau?
Platin có mầu trắng tự nhiên, trong khi vàng trắng là vàng tự nhiên kết hợp cùng với một vài kim loại khác. Mầu trắng của vàng trắng có được thường do một lớp mạ (xi) dầy bên ngoài của trang sức. Do vậy, vàng trắng có khi là mầu trắng hoặc trắng đục (ghi sáng). Một chiếc nhẫn có cùng kích cỡ bằng platin nặng hơn so với một chiếc nhẫn bằng vàng.
Làm thế nào để phân biệt platin thật hay giả?
Tất cả những đồ trang sức platin chuẩn quốc tế đều có dấu đóng chữ "Pt" hoặc "Plat". Thí dụ con số đóng chìm 950 trên trang sức platin có nghĩa rằng nó được làm bằng 95% platin. Ở Pháp, platin được đóng dấu ký hiệu bằng đầu chú chó.
Trang sức platin đắt hơn trang sức bằng vàng ở những điểm sau:
- Trước hết bởi nó hiếm hơn vàng nhiều lần.
- Trang sức platin thường có độ tinh khiết 95% hoặc 90%, trong khi vàng trang sức là 75%.
                                                                                                                                               
                                                                                                                                                    (Theo vgc)

Ngọc trai thần bảo hộ sức khoẻ

Ngọc trai thần bảo hộ sức khoẻ



Qua kết quả nghiên cứu tìm hiểu cho thấy, chức năng phòng chống bệnh của dây chuyền ngọc trai được biểu hiện ở các mặt sau đây:

1. Bệnh viêm họng mãn tính là một loại bệnh thường gặp, người bệnh thường có bệnh trạng cảm thấy có dị vật trong cổ, khạc, nhổ không ra, nuốt không xuống, họng rát, ho khan… sau khi đeo dây chuyền ngọc trai một thời gian dài sẽ làm cho một số bệnh trạng trên giảm nhẹ, thậm chí đến tiêu mất, sau khi ngừng đeo dây chuyền ngọc trai thì bệnh cũ lại có thể tái phát.

2. Sau khi bị trấn động não di chứng gây ra tính tình nóng nảy hoặc tính tình nóng nảy do bản tính, sau một thời gian đeo dây chuyền ngọc trai cũng đều có thể giảm nhẹ bện trạng, đồng thời để nâng cao bồi dưỡng cho đến lúc tính tình hoàn toàn tốt.

3. Đeo dây chuyền ngọc trai còn có tác dụng trấn tĩnh an thần. Có một số người mắc bệnh tim, sau khi đeo dây chuyền ngọc trai một thời gian, nhịp đập của tim trở nên bình thường. Hay một số bạn gái trước khi có kinh nguyệt mấy ngày thường đau đầu, chóng mặt, từ góc độ đông y cho rằng bốc hoả kéo dài, gan dâng lên cao gây ra, đeo dây chuyền ngọc trai sẽ làm cho bệnh trạng này giảm nhẹ hoặc tiêu mất.

         Hàng trang sức ngọc trai vì sao lại có thể có những tác dụng chữa bệnh như vậy? Chúng ta đã biết rằng sự sống đã khởi nguồn từ trong biển cả, đơn thể sự sống sớm nhất là tế bào, tức là tế bào ra đời từ trong biển cả. Tế bào là đơn vị cơ bản cấu thành sinh vật, sinh vật cao cấp là do nhiều tế bào có kết cấu và chức năng khác nhau cấu tạo thành. Trong cơ thể con người có chức chất lỏng ngoài tế bào là sở trường tế bào trực tiếp thấm ướt, là môi trường sống của tế bào, độ pH, thành phần muối của chất lỏng ngoài tế bào càng gần với nước biển. Vì vậy người khoẻ mạnh đeo dây chuyền hàng trang sức, mồ hôi của con người có tác dụng nuôi ngọc, giữ gìn ngọc, được gọi là dây chuyền ngọc trai cùng tăng thêm ích lợi với cơ thể con người, cho nên người khoẻ mạnh đeo dây chuyền ngọc trai càng làm cho ngọc trai thêm sang đẹp.
        Còn trường hợp người mắc bệnh, đeo dây chuyền ngọc trai thì có khác, dây chuyền ngọc trai tương đối dễ bị hao mòn. Điều này là vì cơ thể con người không hợp thời, điện sinh vật sinh ra khác nhau, lực hút của điện tử tầng ngoài đối với ngọc trai có chứa nguyên tố vĩ mô và vi lượng cũng khác nhau. Chúng ta đã biết rằng nguyên tố vi lượng cần thiết của con người cùng với đa số nguyên tố vi lượng chứa trong ngọc trai là nguyên tố chuyển sang nhóm B, tính chất của những nguyên tố này tương đối hoạt bát, một là do sự vận động của chính tầng điện tử, hai là do đeo dây chuyền ngọc trai trên cổ cọ xát lien tục, tạo nên cho những nguyên tố vi lượng hoặc những nguyên tố vĩ mô thông qua lỗ chân long của da mà đi vào cơ thể hoặc tác dụng lên bề mặt da, hoặc đi vào tuần hoàn máu mà tạo ra tác dụng chữa bệnh. Về mặt lâm sang hiệu quả nhất là đeo dây chuyền ngọc trai sẽ chứa được bệnh viêm họng và bệnh giáp trạng. Chính vì như vậy mà một số người mắc bệnh đã phục hồi, còn dây chuyền ngọc trai thì đã hao mòn.

Được hình thành trong đại dương bao la,
 ngọc trai mang lại cho con người nhiều tác dụng

Nhìn chung mà nói, người bình thường đeo day chuyền ngọc trai, khi lấy ra dung đầu lưỡi nếm thử chỉ có thể có vị mặn, còn dây chuyền ngọc trai của người mắc bệnh đeo thì không như thế, do người mắc bệnh chất lỏng không bình thường thấm vào ngọc trai, sinh ra vị khác, thời gian lâu dài, dây chuyền ngọc trai sẽ mòn.
        Vì vật người đeo dây chuyền ngọc trai khi khỏi bệnh, dây chuyền ngọc trai cũng hỏng, thậm chí vứt bỏ, điều này không lấy gì làm lạ. Mắc các bệnh khác nhau thì dây chuyền ngọc trai có các mức độ tổn hại khác nhau. Ví dụ trường hợp dây chuyền ngọc trai của người mắc bệnh viêm họng, đa số là sau khi mất ánh mới xuất hiện bong lớp ngọc trai, ngọc trai trên dây chuyền ngọc trai của người mắc bệnh giáp trạng chỉ là mất ánh mà thôi.
        Do nhiều nguyên nhân mà con người không có gì để tránh được sự xâm nhập quấy nhiễu của bệnh, còn có một số bệnh sử dụng đeo dây chuyền ngọc trai sẽ chữa trị được, người có hứng thú có thể làm thử để biết tác dụng của dây chuyền ngọc trai đối với bệnh mà mình đang mắc phải.

( Theo Mỹ nghệ kim hoàn )

ĐÁ QUÝ VÀ NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU (PHẦN 1)

ĐÁ QUÝ VÀ NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU (PHẦN 1)
Ametit đá quý của những người sinh tháng 2


Đá quý với khả năng chữa bệnh
Đá quý được đặc trưng bởi màu sắc, hình dạng và độ hiếm, do vậy chúng tượng trưng cho những điều đặc biệt, và xung quanh chúng luôn bao phủ những điều huyền bí nhiều khi chưa thể giải thích nổi.
Đá quý không chỉ dùng để làm đẹp chúng còn ảnh hưởng đến tinh thần và trạng thái sức khoẻ của con người. Từ xa xưa, người cổ đại đã biết dùng đá quý để chữa bệnh, họ tin rằng đá quý có khả năng điều chỉnh sự mất cân bằng và tạo nên năng lượng phục hồi bên trong cơ thể con người.

Từ xa xưa, các bậc vua chúa đã biết dùng đá quý như là một vật biểu tượng cho sức mạnh và quyền lực. Họ đeo đá quý quanh đầu với niềm tin rằng đá quý sẽ làm cho họ trở nên thông thái hơn. Vương miện của các bậc quân vương thường được gắn bởi các viên đá quý nổi tiếng, mục đích giúp cho tinh thần luôn được sáng suốt, đầu óc trở nên thông tuệ, suy nghĩ nhanh nhạy và đặc biệt người xưa tin rằng những viên đá trên đỉnh vương miện sẽ giúp cho nhà vua phát hiện được những kẻ nói dối và tiểu nhân.

Với khả năng chữa bệnh, người xưa tin rằng mỗi loại đá quý đều có những năng lượng tiềm tàng có thể bảo vệ chủ nhân khỏi những thương tổn từ bên ngoài, kích hoạt sự hoạt động của trường năng lượng nội tại trong cơ thể, và do vậy mỗi khi cơ thể bị bệnh (tức sự mất cân bằng về sinh học và âm dương) thì một số loại đá quý nhất định sẽ có những phát huy để bù đắp lại sự mất cân bằng đó và do vậy cơ thể có thể chống chọi được với bệnh tật.
Mỗi loại đá quý khác nhau, nhất là những loại đá quý kết tinh (tức có dạng tinh thể nhất định khác với dạng thuỷ tinh) được ví như những cơ thể sống vô cơ chúng được sinh ra và lớn lên trong lòng đất và được kết tinh theo những quy luật nhất định của vật lý, hoá học và tinh thể học. Chúng được ảnh hưởng bởi môi trường địa chất nơi chúng hình thành, kiểu nguồn gốc mà chúng được tạo nên. Trải qua nhiều triệu năm hình thành trong lòng đất ở điều kiện nhiệt độ và áp suất cao, độ sâu lớn và do vậy để có thể tồn tại chúng đã tích luỹ được những năng lượng tiềm tàng trong bản thân mỗi tinh thể. Do vậy, người ta tin rằng các loại đá quý đó có khả năng thu hút hoặc bù đắp năng lượng của con người. Đó chính là sự tương tác, trao đổi năng lượng giữa hai vật thể khác nhau vô cơ và hữu cơ, giữa đá và con người.
Đá quý như là một vật bảo hộ (bùa hộ mạng)
Từ xa xưa, các tộc người nguyên thuỷ có nhiều cách để chống lại sự cám dỗ của ma quỷ và đôi khi tạo ra những năng lượng để xua đuổi chúng và sử dụng đá quý là một trong những cách mà người xưa thường làm. Với sự hiểu biết ngày càng cao, đá quý đã có những vai trò quan trọng và nhiều khi trở thành vật linh thiêng như lá bùa hộ mạng.
Các biểu tượng bùa hộ mạng này được con người luôn đeo bên mình chúng giúp con người ngăn chặn những nguy hiểm luôn rình rập và đẩy lùi ma quỷ. Đôi khi những tấm bùa đó được cất giữ trong nhà hoặc trên xe hơi nó sẽ mang lại cho chủ nhân sức khoẻ, sự may mắn và nhiều khi là những sự giúp đỡ bí hiểm khi cần thiết.
Tác dụng của một số loại đá quý
Đầu tiên phải kể đến thạch anh, đây là một loại đá khá phổ biến trong thiên nhiên. Màu sắc thường gặp là không màu, trắng, tím,hồng, vàng,...Chúng có khả năng nhận, kích hoạt hoặc chuyển giao năng lượng, từ đó kích thích các chức năng của não. Nhờ vậy, những ai mang nó sẽ minh mẫn hơn trong việc học tập, nghiên cứu. Thạch anh màu tím (ametit) là biểu tượng cho những người sinh vào tháng 2. Từ amethyst xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “không say”, chủ nhân mang trên mình một viên ametit sẽ luôn luôn được tỉnh táo trong mọi hoàn cảnh, không dễ gì bị người khác lừa lọc. Những đệ tử của phái “lưu linh” sẽ tha hồ dốc chén mà không biết đến say nếu như trước khi uống rượu ta đặt một viên ametit nhỏ ở dưới lưỡi hoặc cho xuống dưới đáy chén rót rượu.
Ngọc lam (Turquoise): với sắc xanh da trời hoặc xanh lá cũng được sử dụng như một liều thuốc, giúp hòa hợp tinh thần, mang lại niềm vui và may mắn. Đồng thời chúng còn có khả năng cải thiện các mối quan hệ, giúp tăng cường kỹ năng truyền đạt.

Peridot: Để có được giấc ngủ ngon, người xưa thường khuyên chọn mang peridot. Loại đá này có màu xanh lục hơi ngả sang vàng. Chúng giúp bạn cân bằng cảm xúc, làm giảm những cơn đau đầu khó chịu.

Peridot loại đá quý mang đến cho bạn nhiều tác dụng
    Ngoài ra, còn phải kể đến các loại đá quý khác như ruby, topaz, ngọc lục bảo (emerald), ngọc trai, ngọc jade... tất cả chúng đều có khả năng mang lại kỳ diệu cho người sử dụng.
Đá quý và phong thủy Một viên đá quý được đặt đúng chỗ trong không gian nhà bạn không chỉ mang lại vẻ đẹp cho ngôi nhà mà có tác dụng như vật bảo vệ, mang lại hạnh phúc cho gia đình.

Một tinh hốc thạch anh tím nếu được đặt đúng chõ sẽ
cải thiện cho bạn rất nhiều về tiền bạc, danh vọng, sức khoẻ,...
Thông thường, những góc nhà tối hay góc chết trên cầu thang là nơi chứa khí tù đọng gây hại cho sức khỏe. Để cải thiện điều này, hãy đặt vào nơi ấy một viên đá thạch anh. Nhờ đó, năng lượng sẽ được khuấy động. Các chuyên gia phong thủy cho rằng, đặt topaz trong nhà sẽ giúp ngăn chặn hỏa hoạn, những tai nạn bất ngờ. Đặc biệt hơn, topaz còn giúp mang lại sức khỏe và tiền tài cho chủ nhân.
Bạn đừng bao giờ xem đá như một vật vô tri vô giác. Chúng cũng giống con người, cần nạp năng lượng để duy trì sức mạnh. Đơn giản nhất là sử dụng năng lượng của mặt trời hoặc mặt trăng, chiếu trực tiếp vào viên đá. Để làm được điều này, sau một khaỏng thời gian sử dụng khoảng 2-6 tháng chúng ta cần nạp lại năng lượng bằng cách để chúng dưới ánh trăng rằm trong khoảng 2h hoặc chôn xuống dưới đất trong khoảng 4-8h.
                                                                               TS. Phạm Văn Long
                                                    Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu - Kiểm định

TRUYỀN THUYẾT VỀ LOÀI TỲ HƯU

TRUYỀN THUYẾT VỀ LOÀI TỲ HƯU










Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân
Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường. Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người”. Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổ tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.

Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có. Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua. Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là ngọc phỉ thúy xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng bạch ngọc. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.
Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.
Chuyện Tỳ Hưu với nhà Thanh
Trước khi quân đội nhà Thanh nhập quan ải tiến chiếm giang sơn Đại Minh (hồi đó còn là Mãn Châu - tộc Nữ Chân dòng Đại Kim) đã nghiên cứu rất kĩ về văn hóa, phong thủy, biết rằng nhà Đại Minh long mạch đế vương còn thịnh lắm, nếu không phá được phong thủy của Bắc Kinh thì không thể nào chiếm chọn Trung Nguyên được, mà có chiếm được cũng không thể giữ được vì Trung Nguyên rộng lớn, Mãn Châu sẽ nhanh chóng bị nuốt chửng và bị đồng hóa. Trong truyền thuyết, Lưu Bá Ôn đã từng để lại lời dặn cho nhà Minh rằng muốn Đại Minh trường tồn thì phải giữ gìn đặt con Tỳ Hưu trên lầu thành Đức Thắng Môn, mặt ngoảnh về phía Vạn Lý trường thành để trấn áp dân Hung Nô, dân Nữ Chân. Chừng nào mặt Tỳ Hưu còn ngoảnh về phương ấy thì Đại Minh còn.

Mãn Châu biết được truyền thuyết ấy, biết được Sùng Chinh rất tin tưởng vào con Tỳ Hưu này, nên nghĩ ra 1 kế, cho 1 đại sư về phong thủy của mình, lập kế chiếm được lòng tin tưởng của Sùng Chinh, sau đó mới xui Sùng Chinh xoay lại con Tỳ Hưu vào, hướng về nội đô. Vận khí nhà Minh đã hết , Sùng Chinh đã nghe lời xui khiến, và giặc giã nổi lên khắp nơi, đầu tiên là Sấm Vương Lý Tự Thành (cũng là 1 anh hùng áo vải), và sau đó là sự cố Ngô Tam Quế mở ải Sơn Hải Quan, dẫn quân Thanh nhập quan ải. Nhà Minh tuyệt diệt, Sùng Chinh phải tự tay chém Trường Bình công chúa rồi treo cổ tự vẫn.


                                                                                                               TS. Phạm Văn Long Sưu tầm

TÁC DỤNG VÀ CÁCH BÀY ĐẶT TỲ HƯU

TÁC DỤNG VÀ CÁCH BÀY ĐẶT TỲ HƯU
Những con Tỳ Hưu bằng bột đá màu như thế này sẽ ít có tác dụng





1. Tác dụng của Tỳ Hưu
Con Tỳ Hưu không chỉ mang tiền bạc vào nhà mà còn giúp công danh tấn tới và sự bình an lâu dài. Trước tiên, con Tỳ Hưu là linh vật không có hậu môn, nhưng thỉnh thoảng người bán vẫn đục một lỗ nhỏ ở vị trí hậu môn của vài con Tỳ Hưu và trộn chung vào số những con Tỳ Hưu khác. Họ không chỉ khiếm khuyết ấy cho người mua bao giờ, bởi theo họ đó là duyên của người chọn mua, và đâu phải cứ ai muốn giàu là được giàu. Như vậy nếu người nào mua phải Tỳ Hưu có hậu môn thì dù có làm ăn khá giả nhưng không giữ được của. Còn muốn công danh tấn tới thì người mua phải chọn con Tỳ Hưu có sừng, có cánh, mông nhỏng cao, thuôn. Muốn cầu sức khỏe, bình an thì đó là con Tỳ Hưu có râu, mông thuôn và không có cánh (để sức khỏe và bình an không bay đi mất). Tuyệt nhất và tròn trịa nhất đó là con Tỳ Hưu phải có chòm râu càng dài càng tốt, có cái bụng to và mông tròn căng, có sừng (không cần sừng dài như công danh, nhưng phải có sừng) và có cánh.
- Về màu sắc : Tỳ Hưu màu đen thì có tác dụng chiêu tài, phát lộc. Tỳ Hưu màu trắng thì có tác dụng bảo trợ sức khỏe, phát tài phát lộc. Tỳ Hưu màu xanh thì có tác dụng may mắn trong công danh.
- Các tác dụng khác: Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí (nhớ phải là Tỳ Hưu một sừng), ta đặt Tỳ Hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như : Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sinh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của bạn.
- Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy,khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ, mang đến những điều bất lợi cho tất cả các thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.
2. Cách mang và đặt Tỳ Hưu trong nhà
Muốn Tỳ Hưu có tác dụng tốt và linh nghiệm thì Tỳ Hưu phải được tạc bằng các loại đá quý tự nhiên. Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.
Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương. Tất nhiên khi đặt bất cứ vật khí phong thuỷ nào, điều cần phải nhớ là: Xem ngày giờ tốt để đặt.
Nếu ở phương vị ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai con Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giải sát khí của ngũ hoàng đại sát.
Nếu đeo hoặc mang Tỳ Hưu trên người thì tối kỵ sờ tay hoặc để người khác sờ tay vào mắt, miệng, lưỡi, răng của Tỳ Hưu. Nếu không Tỳ Hưu sẽ bị mờ mắt, mòn răng và do vậy sẽ mang được ít vàng bạc châu báu đến cho gia chủ. Khi đi ngủ chớ quên tháo Tỳ Hưu ra và cất đi, nhất là không bao giờ đeo trong khi quan hệ vợ chồng.
Một điều tối kỵ nữa là đem co hoặc tặng Tỳ Hưu mà mình đang đặt trong nhà hoặc đang mang trên người, nếu không thì tài lộc của mình sẽ bị chuyển sang người khác.
                                                                                          TS. Phạm Văn Long Sưu tầm

Tỳ hưu - con vật linh thiêng

Tỳ hưu - con vật linh thiêng
Tỳ Hưu hai sừng thời xưa







Nguồn gốc của Tỳ Hưu
Truyền thuyết về Tỳ Hưu được xuất phát từ chin loại con của Rồng. Rồng sinh ra chín con, là chín loài thần thú nhưng không phải là rồng. Chín loài ấy, có 2 thuyết khác nhau, với thứ tự cũng khác nhau:

Thuyết 1: Tỳ hưu - Nhai xế - Trào phong - Bồ lao - Toan nghê - Bí hí - Bệ ngạn - Phụ hí - Si vẫn.
Thuyết 2: Bí hí - Si vẫn - Bồ lao - Bệ ngạn - Thao thiết - Công phúc - Nhai xế - Toan nghê - Tiêu đồ

Đặc điểm của các loài này được cho là như sau:

1. Tỳ Hưu (Tu Lỳ): Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu một sừng là giống cực kỳ hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái, ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Loại Tỳ Hưu hai sừng là loài chuyên hút vàng bạc, châu báu trong trời đất nên được cho là con vật giữ tài lộc hay còn gọi là Thiên Lộc. Khi đó Tỳ Hưu có đặc điểm miệng to, ngực to, mông to nhưng không có hậu môn (chỉ để hút vào mà không làm mất đi cái gì). Nếu thỉnh một cặp Tỳ Hưu thì con cái là Tỳ, con đực là Hưu.
Tu Lỳ là kiện tác của Tỳ Hưu, với tư thế cuộn tròn, lưỡi cong, răng sắc đón lộc và giữ của. Khi mua Tỳ Hưu rất dễ bị nhầm thành Chó Trời , không hề có tác dụng tốt cho gia chủ.
Tỳ Hưu cũng có đặc điểm là thích âm nhạc, có tài thẩm âm. Vì thế nên Tỳ Hưu thường được khắc trên đầu cây đàn hồ cầm, nguyệt cầm, tì bà.
2. Nhai Xế (Nhai tí): loài mình rồng, đầu chó sói, cương liệt hung dữ, khát máu hiếu sát, thích chém giết chiến trận. Vì thế Nhai Xế được khắc ở thân vũ khí: ngậm lưỡi phủ, lưỡi gươm đao, trên vỏ gươm, chuôi cầm khí giới để thêm phần sát khí.


3. Trào Phong: có thân phượng, có thể hóa thành chim, đặc điểm thích sự nguy hiểm, nhìn ra vọng rộng. Do đó Trào Phong được tạc ngồi trên nóc nhà, đầu mái nhà nhìn về phía xa.


4. Bồ Lao: thích tiếng động lớn, âm thanh vang dội, vì thế quai chuông khắc hình Bồ Lao hai đầu quay ra hai bên ôm chặt quả chuông.
 
5. Toan Nghê: hình thù giống sư tử, thích khói lửa, mùi thơm, nuốt khói phun sương. Do đó Toan Nghê được khắc trên các lư hương, đỉnh trầm, ngồi trầm mặc trên đỉnh hay bám hai bên.


6. Bí Hí còn gọi là Quy Phu: giống con rùa, thích mang nặng, có thể cõng được tam sơn ngũ nhạc không bao giờ mỏi. Vì thế Bí Hí cõng bia, trụ đá, nhiều người nhầm với rùa.


7. Bệ Ngạn (Bệ hãn) còn gọi là Hiến chương: như con hổ, thích nghe phán xử, phân định; vì thế Bệ Ngạn được tạc ở công đường, nhà ngục, trên các tấm biển công đường.


8. Phụ Hí: mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời văn hay chữ tốt. Vì thế Phụ hí tạc trên đỉnh hoặc hai bên thân bia đá.


9. Si Vẫn (Li vẫn, Si vĩ): miệng trơn họng to, rất thích nuốt các vật lớn, lại có thể phun nước làm mưa. Vì thế Si Vẫn được tạc trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn, khác với Trào Phong là đầu quay vào trong, nuốt lấy xà nhà hoặc bờ nóc.

10. Thao Thiết: thích ăn uống, càng nhiều đồ ăn càng tốt. Vì thế được khắc trên các vạc lớn, lại tượng trưng cho việc thu lấy tài lộc giống Tì Hưu.

11. Công Phúc (Bát phúc, Bát hạ): thích nước, nên được khắc tạc ở chân cầu, đê đập, cống nước để canh giữ.

12. Tiêu Đồ (Thúc đồ, Phô thủ): đầu giống sư tử, thích sự kín đáo yên tĩnh. Vì thế được tạc ngoài cửa, ngụ ý giữ yên cho ngôi nhà. Đầu Phô Thủ ngậm thêm cái vòng để khách đến dùng nó mà gõ.


Tương Truyền về Tỳ Hưu
Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.

Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.
Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.
Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy.Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.
Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.
Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.
Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.
                                                                                                            TS. Phạm Văn Long Sưu tầm

Hổ phách (Amber)

Hổ phách (Amber)
Mặt dây bằng hổ phách





1. Khái niệm: Hổ phách là một loại nhựa cây hoá thạch với thành phần chủ yếu là nhựa cây các loại và một số loại axit khác, thành phần hóa học của chúng thường là C10H16O cùng với H2S.



Nhựa cây chuẩn bị hoá đá (bên phải) và loại hổ phách thô (bên trái)

Mặc dù hổ phách không phải là một loại khoáng vật nhưng người ta vẫn coi chúng như một loại đá quý, được dùng làm đồ trang sức, hoặc với mục đích trang trí.
             
             Căn phòng hổ phách ở điện Kaliningrad              
2. Tính chất:
- Hổ phách thường trong suốt và có ánh nhựa.
- Màu sắc: Hổ phách thường có nhiều màu khác nhau, nhưng màu phổ biến nhất là màu vàng nâu và màu đặc trưng này được gọi là màu “hổ phách”. Một số màu khác có thể gặp như màu vàng chanh, màu nâu, hoặc thậm chí là màu đen. Một số màu khác hiếm hơn như màu đỏ, màu lục, màu lam.


Hổ phách màu lam Dominica

- Độ cứng: 2-2,5
- Mềm ở khoảng 1500C nóng chảy ở 250 - 3000C.                                                             
- Chiết suất: 1.54
- Tỷ trọng: 1.08
- Phát quang: trắng lục (sóng dài)
                    lục tươi (sóng ngắn)
- Bao thể: Thường là côn trùng bị bẫy, rêu, cành cây hoặc lá cây, ...Khối hổ phách trong suốt bọc côn trùng thường có giá rất cao, ngoài ý nghĩa sưu tập nó còn có ý nghĩa đối với các nhà sinh vật học và địa chất học. Ngoài ra có thể gặp các bao thể pyrit dạng tinh thể.

Côn trùng được lưu giữ trong hổ phách

Hoá thạch "kiến" trong hổ phách

Một dạng bao thể khác cũng hay gặp trong hổ phách là các bao thể bọt khín hoặc các bao thể dạng starburst (có hoa văn hình đĩa mặt trời) chúng được hình thành do các ứng suất nén trong lòng đất.
- Một số tính chất khác:
+ Tác dụng với nhiệt: Hổ phách thường bị mền ở nhiệt độ khoảng 150oC và nóng chảy ở nhiệt độ 250-300oC. Có thể dùng một que diêm để làm nóng chảy hổ phách và mùi bốc lên giống mùi hương.
+ Hổ phách rất nhạy cảm với axit, dung môi hoặc khí ga, với dung môi rượu hoặc thậm chí với cả nước hoa.
+ Hổ phách có tính dẫn điện yếu, nếu ta dùng viên hổ phách chà vào vải quần áo chúng sẽ nhiễm điện và có thể hút được các vật nhỏ.
+ Hổ phách lúc đầu được khai thác chúng thường có màu vàng sáng và khi để càng lâu thì màu của chúng càng trở nên tối hơn trở thành màu nâu đỏ.
3. Nguồn gốc:
    Cho đến nay mẫu hổ phách cổ nhất được tìm thấy trong kỷ carbon (cách ngày nay khoảng 345 triệu năm). Mẫu hổ phách có chứa hoá thạch cổ nhất được tìm thấy là mẫu hổ phách trong kỷ creta (cách ngày nay khoảng 146 triệu năm).
    Hai nguồn cung cấp chính hổ phách trên thị trường là các quốc gia vùng Baltic và Cộng hòa Dominica.
    Hổ phách vùng Baltic thì cổ hơn nên được thị trường ưa chuộng, nhưng hổ phách ở Dominica thì lại nhiều xác côn trùng hơn.
    Trong vùng Baltic, mỏ hổ phách lớn nhất ở tây Kaliningrad thuộc Nga, ngoài ra còn tìm thấy hổ phách ở Lithuania, Estonia, Latvia, Ba Lan và Đức, thỉnh thoảng hổ phách lại trôi dạt vào bờ biển Baltic thuộc Đan Mạch và Na Uy.
    Các nguồn hổ phách khác ở các nước như Miến Điện, Liban, đảo Scicily, Mexico, Rumani và Canada.
Các khu vực phát hiện hổ phách chủ yếu trên thế giới

4. Các loại đá tương tự và cách phân biệt:
- Copal (nhựa cây hoá thạch hiện đại): Từ nhựa của nhiều loại cây bị chôn vùi trong lòng đất với khoảng thời gian ngắn.
Phân biệt:  + Các tính chất giống nhau
                  + Phản ứng với ete (Metylat ete): Sẽ bị mềm và hoà tan còn hổ phách thực thụ thì không.
                  + Phát quang dưới sóng ngắn.

- Nhựa bakelit: (phenol fomandehit): rất giống hổ phách.
+ Tỷ trọng lớn hơn :1,26 sẽ chìm trong nước muối, hổ phách sẽ nổi trong nước muối.
+ Chiết suất cao hơn: 1,66

- Nhựa celluloit: có chiết suất: 1.50
            + Tỷ trọng: 1.38
            + Phản ứng với axit sufuric (5%)
            + Phát quang trắng phớt vàng.

- Thuỷ tinh: Thuỷ tinh vàng (màu do oxit urani), có tỷ trọng cao hơn.
5. Bảo quản
    Hổ phách là loại đá quý mềm, độ cứng chỉ đạt 2 đến 2,5 trên thang Mohs. Không được cất nó chung với đồ kim hoàn để tránh bị trầy xước.
    Không bao giờ cho hổ phách tiếp xúc với nhiệt và hóa chất như keo xịt tóc hoặc nước hoa và cũng không nên rửa nó với máy siêu âm.
    Để làm sạch hổ phách, chỉ cần lau nhẹ nó bằng một miếng vải mềm thấm nước.
TS. Phạm Văn Long

Tiêu chuẩn 4C trong chất lượng đá quý

Tiêu chuẩn 4C trong chất lượng đá quý


Cũng giống như việc đánh giá chất lượng kim cương, chất lượng đá quý theo tiêu chuẩn 4C cũng bao gồm:
- Màu sắc: Color
- Độ tinh khiết: Clarity
- Chất lượng chế tác: Cut
- Trọng lượng: Carat weight

1. Màu sắc:
Đối với các loại đá quý nói chung thì màu sắc là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến chất lượng. Màu sắc được quyết định bởi 3 yếu tố:
- Gam màu
- Độ bão hoà màu
- Tông màu

 

Biểu đồ màu theo không gian 3 chiều

Gam màu: Là chỉ một màu nhất định trên biểu đồ màu, đó là các màu cơ bản như: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, tím,… Theo đúng nghĩa thì mầu trắng và mầu đen không được coi là mầu sắc thực sự: mầu trắng là cảm nhận của mắt người đối với một hỗn hợp đều của tất cả các bước sóng trong vùng nhìn thấy, từ 400 đến 700 nm, còn mầu đen là khi không có một bước sóng nào đập vào mắt người. Màu nâu cũng không được gọi là màu riêng biệt bởi chúng là hoà trộn giữa màu vàng và màu cam. Trong thế giới các loại đá quý thì ruby, emơrot và saphia được coi là tương ứng với 3 màu cơ bản trong tự nhiên là màu đỏ, màu lục và màu lam.
 Độ bão hoà màu: chỉ độ tinh khiết hoặc độ tươi xỉn của mầu. Khi xem xét màu sắc của một viên đá quý ở một gam màu cụ thể (chẳng hạn ruby) sự khác nhau về chất lượng của màu sắc (màu đỏ) chính là sự khác nhau về độ bão hoà màu và thông thường thì người ta thường ưa chuộng những loại có độ bão hoà màu cao hơn. Cường độ phát quang mạnh cũng được coi là có độ bão hoà màu cao.
Tông màu: Chỉ mức độ sáng, tối của màu hoặc đó chính là mức độ hấp thụ ánh sáng của đá quý. Màu trắng là màu có 0% tối và màu đen là màu 100% tối. Khi ở độ bão hoà cao nhất các loại đá quý thường có màu tối hơn khi chúng ở độ bão hoà thấp. Ở cùng một độ bão hoà nhưng các loại đá quý có gam màu khác nhau thì cũng có tông màu khác nhau. Chẳng hạn như cùng độ bão hoà nhưng màu tím sẽ có tông màu sáng hơn so với màu vàng. Màu đỏ và màu lục thường có độ sáng như nhau ở cùng cấp độ bão hoà. Khi đánh giá chất lượng màu sắc của đá quý thì tông màu là một yếu tố rất quan trọng.

 
Quan hệ giữa tông màu và độ bão hoà màu

Việc xác định chính xác mầu của đá quý vẫn chưa đủ, người ta còn phải biết mầu nào là “đẹp” dựa vào thị hiếu của người tiêu thụ. Nói cách khác, chúng ta còn cần phải biết chất lượng thương mại của mầu sắc, vì nó quyết định giá trị của viên đá. Việc phân biệt giữa mầu “đẹp” và mầu “xấu” phải dựa trên thị hiếu chung của người tiêu dùng, dựa trên kinh nghiệm của nhà ngọc học và bị chi phối bởi thị trường. Như vậy, để phân cấp chất lượng mầu sắc đá quý, ta phải thường xuyên tiếp xúc với người mua, người bán, với nhu cầu của thị trường.

 
Sự khác nhau của độ bão hoà màu (qua ví dụ màu lam)

2. Độ tinh khiết
Độ tinh khiết được hiểu là độ chứa các bao thể và các khuyết tật bên trong và bên ngoài của viên đá. Độ tinh khiết cũng là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng của đá quý (sau mầu sắc). Các bao thể trong đá quý có thể là các bao thể rắn, bao thể lỏng, bao thể đa pha hoặc là các khe nứt, vết vỡ được hàn gắn,…

 
Sự khác nhau của các cấp độ tinh khiết

Khi xem xét ảnh hưởng của các bao thể đến chất lượng đá quý ta cần phải chú ý đến các yếu tố sau:
- Mức độ nhìn thấy của các bao thể: phụ thuộc vào
      + Kích thước của bao thể: Bao thể có kích thước càng nhỏ thì càng ít ảnh hưởng đến chất lượng của đá quý.
     + Số lượng của bao thể: Đá quý càng có ít bao thể càng tốt.
     + Màu sắc của bao thể: Bao thể sáng màu sẽ tốt hơn là bao thể tối màu.
     + Vị trí của bao thể: Các bao thể nằm ở phần đáy hoặc phần rìa thắt lưng sẽ ít ảnh hưởng đến chất lượng đá quý hơn là các bao thể nằm sát phía trên mặt bàn.
- Mức độ ảnh hưởng đến độ bền của viên đá: chủ yếu là các khe nứt, vết vỡ; chúng phụ thuộc vào:
      + Kiểu của khe nứt: Các khe nứt chưa được hàn gắn nhiều khi khó quan sát thấy hơn là các khe nứt khi được hàn gắn tuy nhiên chúng lại làm cho độ bền của bản thân viên đá đó giảm đi. Do vậy nhiều khi chúng ta phải chấp nhận hàn gắn để làm tăng độ bền của đá quý.
      + Vị trí của các khe nứt: Các khe nứt nằm ở đáy (culet) hoặc ở rìa của cạnh thắt lưng sẽ làm cho độ bền của viên đá giảm đi nhiều hơn là các khe nứt phát triển hoàn toàn bên trong viên đá. Các khe nứt phần ở mặt trên (crown) sẽ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hơn là các khe nứt phân bố ở phần dưới (pavilion).

 3. Chất lượng chế tác
Chất lượng chế tác của đá quý phản ánh mối quan hệ giữa vẻ đẹp của viên đá với khối lượng lớn nhất có thể sau khi chế tác. Chất lượng chế tác được đặc trưng bởi các chỉ tiêu sau:
- Hình dạng;
- Kiểu chế tác
- Độ cân đối
- Độ đối xứng
- Độ hoàn thiện.

 
Các bộ phận của một viên đá đã chế tác

Hình dạng : là hình dạng chung của viên đá, cùng với sự phân bố của các mặt giác.


Hình dạng chế tác và tên gọi của nó

Kiểu chế tác :
- Facet (mài giác): thường áp dụng cho những viên có độ trong suốt cao, gồm các kiểu: kiểu kim cương, kiểu đáy tầng và kiểu hỗn hợp.
- Cabochon (mài khum): áp dụng cho những viên có độ tinh khiết kém, nhiều khuyết tập, hoặc những viên có hiệu ứng sao, mắt mèo.
Độ cân đối: là qua hệ giữa các phần khác nhau của viên đá với đường kính theo thắt lưng. Khi xác định độ cân đối, cần đo một loạt thông số, sau đó so sánh với các yêu cầu kỹ thuật của mỗi kiểu chế tác để đánh giá. Quan trọng nhất là các yếu tố tỷ lệ giữa phần trên và phần dưới, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng. Ở mỗi kiểu chế tác khác nhau thì các tỷ lệ này cũng khác nhau.

Ví dụ: Theo tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng
- Kiểu trái tim có tỷ lệ là 1:1.
- Kiểu ovan có tỷ lệ là 1,5-1,75: 1.
- Kiểu chữa nhật: 1,5:1.

 

Khi một viên đá chế tác quá nông thì ánh sáng dễ dàng xuyên qua
ít bị phản xạ và độ long lanh sẽ giảm đi rất nhiều

Độ đối xứng: Là tương quan giữa các phần, các bộ phận của viên đá sau chế tác. Khu xem xét ta phải chú ý đến các yếu tố sau:
- Độ lệch của tim đáy.
- Độ lệch của mặt bàn.
- Tỷ lệ của thắt lưng so với chiều dày.
- Mặt bàn có song song với thắt lưng không?.
Độ hoàn thiện: chất lượng bề mặt của viên đá, độ chính xác về hình khối chung và sự sắp xếp của các giác. Độ cân đối thể hiện qua:
- Độ đối xứng : độ chính xác về hình dạng và sự sắp xếp của các giác mài.
- Độ bóng : chất lượng bề mặt của viên đá.

Dựa vào tất cả các chỉ tiêu trên, người ta chia chất lượng chế tác thành các cấp sau đây:
- Chế tác rất tốt
- Chế tác tốt
- Chế tác trung bình
- Chế tác kém

4. Trọng lượng
Trọng lượng của đá quý được tính bằng carat (1carat = 0.2gram). Giá trị của đá quý tăng rất nhanh theo trọng lượng và tăng theo cấp số nhân.

Khi đánh giá chất lượng đá quý người phân cấp chất lượng cần phải đánh giá tổng thể 4 tiêu chí trên với sự hỗ trợ của các thiết bị cần thiết:

- Để xác định mầu sắc người ta sử dụng các phương pháp sau đây:
+ Các phương pháp trực quan: so sánh với các mẫu chuẩn (tự nhiên và nhân tạo), các bảng mầu chuẩn v.v.
+ Các phương pháp đo mầu: dùng các thiết bị như Color Master của Viện Ngọc Mỹ (GIA), Color Scan của các phòng Ngọc học Mỹ (AGL), các máy đo phổ.

Để xác định mầu chính xác cần có các thiết bị cơ bản là:
- Đèn ánh sáng ban ngày;
- Bộ màu chuẩn;
- Các thiết bị phóng đại tiêu sắc, tương phản khác nhau như kính lúp, kính hiển vi.

Nên nhớ một điều rằng ánh sáng khác nhau sẽ làm cho ta có các cảm nhận khác nhau về màu sắc và do vậy sẽ đưa ra nhận định không chính xác về màu. Cần thiết có thể kết hợp các chế độ chiếu sáng khác nhau để đánh giá, nhiều khi với mỗi gam màu nhất định ta sẽ dùng một chế độ chiếu sáng phù hợp.

 

Sự ảnh hưởng của ánh sáng tới màu sắc

Để xác định độ tinh khiết người ta dùng kính lúp có độ phóng đại 10X, hoặc dùng kính hiển vi ngọc học.

Trên đây là chất lượng đá quý được đánh giá theo tiêu chí 4C, tuy nhiên trong thực tế chất lượng của đá quý còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và đòi hỏi người đánh giá chất lượng phải là một chuyên gia giàu kinh nghiệm mới có thề đưa ra những kết luận chuẩn xác. Các yếu tố khác cần phải xem xét là:
- Đá tự nhiên hay đã được xử lý.
- Các yếu tố của thị trường chi phối: chẳng hạn
+ Khả năng cung, cầu của thị trường
+ Tình hình tài chính của người bán hoặc người mua.
+ Quan hệ giữa người mua và người bán.
+ Nguồn gốc xuất xứ của đá quý,...


TS. Phạm Văn Long
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu - Kiểm định
Đá quý và Vàng (VGC)

Ruby xử lý

Ruby xử lý nhiệt bằng phương pháp thuỷ tinh chì (lead glass ruby)
Ruby thuỷ tinh chì


Ruby xử lý nhiệt kết hợp với thẩm thấu thuỷ tinh chì vào trong các khe nứt được xuất hiện đầu tiên vào năm 2004 và do các nhà xử lý Thái Lan thực hiện tại Chanthaburi. Đây là loại ruby có màu tương đối đẹp nhưng rạn nứt nhiều có nguồn gốc từ các mỏ Madagascar. Quy trình xử lý để tạo ra loại ruby này như sau:

Phương pháp tiến hành:

Chuẩn bị: Loại ruby thích hợp nhất cho việc xử lý bằng phương pháp thuỷ tinh chì là loại ruby có màu tương đối đẹp và có nhiều khe nứt. Thích hợp nhất cho loại này là ruby từ mỏ Andilamena (Madagascar). Quá trình xử lý được tiến hành qua nhiều giai đoạn và sử dụng nhiều loại hợp chất khác nhau của chì để lấp đầy vào các khe nứt.

 
Đặc điểm loại ruby ở Madagascar trước xử lý

Bước 1. Lô ruby trước khi đưa vào xử lý được làm sạch các chất bẩn và tạp chất để tránh bị ảnh hưởng xấu sau khi xử lý. Kích thước của chúng không quan trọng có thể là những loại có kích thước 5-10cts hoặc cả loại nhỏ hơn 1cts.


Nguyên liệu chuẩn bị cho xử lý nhiệt

Bước 2. Lô đá được làm ấm. Đây thực sự là một quá trình xử lý nhiệt, quá trình này mục đích làm cho các khe nứt được mở ra và các tạp chất trong các khe nứt dễ dàng thoát ra ngoài. Quá trình này cũng có thể làm cho màu của ruby được cải thiện một bước. Nhiệt độ của quá trình xử lý này được đặt trong khoảng từ 900 – 1400oC tuỳ thuộc vào đặc điểm của lô nguyên liệu ban đầu. Ở nhiệt độ 900oC chưa đủ để hoà tan các bao thể rutin dạng sợi do vậy ở một số viên thì ở nhiệt độ này ta chưa thể nhận biết được đã qua xử lý nhiệt.

 

Bột hỗn hợp của ôxit chì trước khi cho vào lò xử lý

Bước 3. Lô đá sau đó được trộn với bột thuỷ tinh chì và đem nung, thành phần của bột thuỷ tinh chì thường là hỗn hợp của silic và chì với một lượng nhỏ natri, kali, canxi hoặc một lượng nhỏ oxit kim loại như vanadi, bismuth. Ở dạng bột, hỗn hợp này thường có màu cam và khi nóng chảy thành dạng thuỷ tinh ở khoảng nhiệt độ 900oC chúng sẽ chuyển sang màu vàng hoặc màu vàng cam. Thành phần ở trên là thành phần cơ bản, nhưng với một số nhà xử lý khác thành phần của hỗn hợp có thể thay đổi ít nhiều và nhiệt độ để chuyển sang dạng thuỷ tinh cũng có thể cao hơn 900oC.
Bột thuỷ tinh chì sau đó được trộn với một loại dầu đặc biệt và cho vào cốc đựng ruby (nguyên liệu cần xử lý) và trộn sao cho tất cả các các viên ruby đều được bám bột đều các mặt. Lô đá sau đó được đặt vào lò xử lý. Nhiệt độ cao làm cho chất bột biến thành thuỷ tinh và đi vào lấp đầy các khe nứt lúc này cũng đã được mở ra do nhiệt độ cao.

Ruby nguyên liệu và bột ôxit chì được trộn đều trước khi cho vào lò
Thành phần của chất bột được chuẩn bị ban đầu là một bí  quyết của các nhà xử lý để tạo ra độ trong suốt cao và lấp được hoàn toàn vào các khe nứt. Quá trình xử lý có thể được tiến hành từ 1-2 lần để thu được kết quả tốt nhất.


Ruby được xử lý sau khi lấy ra từ lò

Phân biệt

Việc phân biệt loại ruby đã qua xử lý nhiệt bằng phương pháp thuỷ tinh chì thường rất dễ dàng nhờ vào chuyên gia có kinh nghiệm và sử dụng kính hiển vi ngọc học. Cũng có thể sử dụng hệ thống thiết bị phân tích huỳnh quang tia X tán sắc năng lượng EDXRF (Energy Dispersive X-Ray Fluorescence).

Quan sát dưới kính hiển vi ngọc học:
Một chuyên gia có kinh nghiệm sử dụng kính hiển vi ngọc học sử dụng chế độ chiếu sáng “trường tối” sẽ dễ dàng phân biệt loại ruby này với các đặc điểm sau:
- Hiệu ứng “phát sáng” của khe nứt được lấp đầy: Dùng ánh sáng “trường tối” ta dễ dàng quan sát được hiệu ứng phát sáng với màu da cam và màu lam (blue/orange) (ảnh dưới). Việc quan sát có thể dễ dàng hơn nếu sử dụng thêm ánh sáng cáp quang và chiếu xiên từ trên xuống song song với khe nứt được lấp đầy. Hiệu ứng này cũng tương tự như hiện tượng phát sáng khi ta quan sát loại kim cương được xử lý khe nứt bằng phương pháp lấp đầy.

 
HIệu ứng phát sáng của thuỷ tinh trong khe nứt dưới kính hiển vi ngọc học

- Bao thể dạng “bọt khí” và các bao thể dạng tấm mỏng: Một đặc điểm dễ dàng phân biệt được là các bao thể dạng bọt khí. Các bao thể này xuất hiện đồng thời với quá trình thẩm thấu của dung thể thuỷ tinh vào trong các khe nứt. Các bao thể dạng tấm mỏng thường là tàn dư của các tạp chất của môi trường xuất hiện trong khe nứt trước quá trình xử lý.


Bao thể dạng bọt khí trong các khe nứt


Dễ dàng quan sát được bọt khí trong dung dịch nhúng


Các bao thể dạng tấm mỏng

Dùng thiết bị phân tích huỳnh quang tia X tán sắc năng lượng EDXRF (Energy Dispersive X-Ray Fluorescence).
Bằng thiết bị EDXRF dễ dàng phát hiện được thành phần các nguyên tố trong chất bột được chuẩn bị để xử lý.

Phổ EDXRF của thuỷ tinh chì lấp đầy trong các khe nứt ruby

Một số câu hỏi thường gặp:
Trong quá trình làm kiểm định loại ruby này tại Trung tâm Nghiên cứu - Kiểm định Đá quý và Vàng (VGC) chúng tôi thường gặp một số câu hỏi sau:

1. Độ bền của loại ruby này như thế nào?
Loại ruby xử lý nhiệt bằng phương pháp thuỷ tinh chì thường có độ bền thấp hơn so với ruby tự nhiên hoặc ruby được xử lý nhiệt bình thường. Do thuỷ tinh chì thường rất mềm do vậy các khe nứt bị lấp đầy bằng thuỷ tinh chì thường dễ dàng bị ăn mòn trong quá trình sử dụng.

Ruby sao được xử lý bằng phương pháp thuỷ tinh chì

2. Giá trị của loại ruby này so với ruby tự nhiên?
Giá trị của loại ruby này thường thấp hơn rất nhiều so với ruby tự nhiên và ruby được xử lý nhiệt bằng phương pháp truyền thống. Giá của loại mài faxet màu đẹp, trong suốt dao động trong khoảng 30-75$/cts (cho loại từ 3-5cts/viên). Loại mài cabochon rẻ hơn nhiều chỉ dao động trong khoảng 5-15$/cts (cho loại 5-15cts/viên).

 
Giá của loại mài faxet dao động trong khoảng 30-75$/cts (cho loại từ 3-5cts/viên).
Loại mài cabochon dao động trong khoảng 5-15$/cts (cho loại 5-15cts/viên).

Các chuỗi ruby thường được làm từ loại ruby này

Chứng chỉ kiểm định:
Với loại ruby này khi kiểm định các phòng kiểm định trên thế giới thống nhất ghi như sau:
Kết luận: RUBY TỰ NHIÊN
Nhận xét: RUBY TỰ NHIÊN ĐƯỢC XỬ LÝ NHIỆT BẰNG PHƯƠNG PHÁP THUỶ TINH CHÌ.
Tuy nhiên ở một số phòng Kiểm định ở Việt Nam thường lờ đi dòng nhận xét và đánh đồng chúng với loại ruby tự nhiên do vậy làm thiệt hại cho khách hàng rất nhiều.

TS. Phạm Văn Long (Theo Fieldgemology.com)

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Múa sắm đá quý uy tín chất lượng chỉ có tại LinaGem Stone